CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH NHẰM KHƠI THÔNG NGUỒN LỰC CHO KINH TẾ TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH

Tóm tắt: Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân. Trên cơ sở phân tích tầm quan trọng của việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, bài viết làm rõ những thành tựu đạt được trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong những năm qua, đồng thời chỉ ra các hạn chế, điểm nghẽn. Từ đó, đề xuất giải pháp trong việc lựa chọn những ngành kinh tế mũi nhọn để tạo động lực cho doanh nghiệp tư nhân phát triển bền vững giai đoạn 2026-2030.

Từ khóa: Môi trường đầu tư kinh doanh, khơi thông nguồn lực, kinh tế tư nhân, tỉnh Ninh Bình.

1. Đặt vấn đề về phát triển kinh tế tư nhân và tầm quan trọng của cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

Kinh tế tư nhân được Đảng và Nhà nước khẳng định là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng vai trò chủ đạo trong phát huy nội lực quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng trưởng bền vững. Thực tiễn phát triển hơn ba thập niên qua cho thấy, khu vực này ngày càng khẳng định vị thế trong nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số quốc gia. Theo báo cáo của Chính phủ tại Hội nghị toàn quốc về phát triển kinh tế tư nhân 2025, khu vực tư nhân hiện đóng góp gần 45% GDP, chiếm khoảng 55-60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tạo việc làm cho hơn 85% lực lượng lao động trên phạm vi cả nước. Tại tỉnh Ninh Bình, kinh tế tư nhân có bước phát triển khá với trên 24.500 doanh nghiệp đang hoạt động, là một trong những động lực chính của tăng trưởng kinh tế, đóng góp ổn định vào nguồn thu ngân sách, chiếm khoảng 53% thu ngân sách tỉnh, giải quyết việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Đây là minh chứng cho vai trò quan trọng của khu vực này trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nổi bật, khu vực kinh tế tư nhân vẫn phải đối diện nhiều rào cản thể chế và hạn chế nội tại: nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ, siêu nhỏ, vốn mỏng, khả năng tiếp cận tín dụng và ứng dụng công nghệ thấp; thủ tục hành chính còn phức tạp, chi phí tuân thủ cao, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, đầu tư và thuế...; dữ liệu quản lý nhà nước chưa liên thông đồng bộ giữa các địa phương, gây cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Trước thực trạng đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số, tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và công bằng cho khu vực kinh tế tư nhân. Ở cấp tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 30/01/2026 về phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 135/KH-UBND ngày 23/4/2026 triển khai thực hiện Nghị quyết, trong đó nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm là “Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi...” tạo điều kiện tốt nhất cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển.

Do đó, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tiếp tục “Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm khơi thông nguồn lực cho kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây không chỉ là yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 10-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy mà còn góp phần nâng cao hiệu lực quản trị nhà nước, củng cố niềm tin doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững của tỉnh Ninh Bình; đồng thời tạo môi trường đầu tư thuận lợi, điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, đổi mới và cạnh tranh lành mạnh. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, tạo thêm nhiều việc làm và thúc đẩy sự phát triển cộng đồng. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, việc cải thiện môi trường đầu tư giúp tỉnh tăng cường năng lực cạnh tranh, thu hút nguồn lực đầu tư từ cả trong và ngoài nước, đồng thời khơi thông nguồn lực để kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh phát triển. Đây là yếu tố quan trọng khi chúng ta hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030.

2. Những thành tựu đạt được trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh thời gian qua

Thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã ban hành chương trình hành động và các văn bản nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh; phân công rõ trách nhiệm cho từng sở, ngành, địa phương trong tổ chức thực hiện; đồng thời xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Ngày 12/6/2026, UBND tỉnh đã tổ chức Chương trình kết nối “Chính quyền đồng hành - Doanh nghiệp phát triển” chuyên đề về đô thị, bất động sản và nhà ở. Cùng với đó, các sở, ban, ngành, địa phương đã tăng cường phối hợp trong triển khai các nhiệm vụ góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Công tác phối hợp được thực hiện thường xuyên trong giải quyết thủ tục hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Các chỉ số nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính công của tỉnh đạt kết quả tích cực:

•  Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index): Theo báo cáo năm 2025 của Bộ Nội vụ về Chỉ số cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tỉnh Ninh Bình đạt tổng điểm PAR Index 2025 là 93,08 điểm, xếp thứ 4 toàn quốc.

•  Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS): Theo công bố của Bộ Nội vụ năm 2025, tỉnh Ninh Bình đạt 83,33%, xếp thứ 18/34 tỉnh, thành phố trong cả nước, cao hơn chỉ số trung bình chung của cả nước 0,24%.

•  Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): Theo công bố năm 2025 của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, tỉnh Ninh Bình đạt 65,46 điểm, được xếp trong nhóm 13 địa phương thuộc nhóm Khá của cả nước trong bảng xếp hạng PCI phiên bản 2.0.

Phát huy kết quả đạt được trong năm 2025, trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh Ninh Bình tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; qua đó, các chỉ số PAR Index, SIPAS và PCI tiếp tục được cải thiện, phản ánh tích cực hiệu quả công tác điều hành, cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh. Kết quả này phản ánh sự quyết tâm, nỗ lực của Ủy ban nhân dân tỉnh cùng các sở, ban, ngành, địa phương trong việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết số 02/NQ-CP. Công tác cải cách hành chính tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng công khai, minh bạch, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; chất lượng giải quyết thủ tục hành chính được nâng lên; việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, số hóa hồ sơ và cung cấp dịch vụ công trực tuyến được triển khai đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, tỉnh tiếp tục duy trì hiệu quả các kênh đối thoại, tiếp nhận phản ánh, kiến nghị; tăng cường tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực phục vụ hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.

3. Những hạn chế và điểm nghẽn

Mặc dù tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh thời gian qua tiếp tục ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh từng bước phục hồi, song doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn do thị trường tiêu thụ, xuất khẩu thu hẹp; giá nguyên vật liệu, chi phí vận tải, logistics và chi phí sản xuất duy trì ở mức cao, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực tài chính, quản trị và khả năng cạnh tranh còn hạn chế; việc tiếp cận vốn, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và mở rộng thị trường còn nhiều khó khăn.

Nguồn lực dành cho hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm, mở rộng thị trường còn hạn chế. Trong khi đó, tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, phát triển xanh và phát triển bền vững ngày càng cao, tạo thêm áp lực đối với hoạt động sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành tại một số cơ quan, đơn vị, địa phương có thời điểm chưa thực sự quyết liệt; việc dự báo, nắm bắt tình hình và tham mưu xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh chưa kịp thời.

Công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử và chuyển đổi số mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn còn một số nội dung chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Bên cạnh đó, một số quy định, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng còn bất cập, ảnh hưởng đến quá trình triển khai các dự án đầu tư ngoài ngân sách. Hoạt động xúc tiến đầu tư chưa thực sự hiệu quả; chất lượng môi trường đầu tư kinh doanh và năng lực cạnh tranh của tỉnh tuy đã có chuyển biến nhưng cần tiếp tục được cải thiện để nâng cao khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư.

4. Lựa chọn những ngành kinh tế mũi nhọn để tạo động lực cho doanh nghiệp tư nhân phát triển bền vững giai đoạn 2026-2030

4.1. Du lịch và công nghiệp văn hóa (ngành kinh tế mũi nhọn hàng đầu)

Du lịch đã và đang được xác định rõ là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong các quy hoạch và nghị quyết gần đây. Ninh Bình sở hữu di sản thế giới Tràng An, Bái Đính, Vườn quốc gia Cúc Phương, Tam Cốc - Bích Động, nhiều di tích lịch sử, văn hóa và tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch biển.

•  Lý do phù hợp với doanh nghiệp tư nhân bền vững: Tạo chuỗi giá trị dài (khách sạn, dịch vụ, ẩm thực, lưu niệm, homestay, tour trải nghiệm), thu hút đầu tư tư nhân thuận lợi, ít ô nhiễm, tạo việc làm lớn cho cộng đồng địa phương và dễ kết hợp chuyển đổi số.

•  Hướng phát triển: Xây dựng sản phẩm du lịch chất lượng cao, liên kết vùng (Hà Nội - Ninh Bình - ven biển), phát triển du lịch biển, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái và các sự kiện lớn. Mục tiêu là trở thành trung tâm du lịch quốc gia/quốc tế.

4.2. Công nghiệp chế biến, chế tạo (cơ khí, ô tô, điện tử, công nghiệp hỗ trợ) - Trụ cột động lực tăng trưởng

Công nghiệp được coi là ngành tạo động lực chính, với trọng tâm là công nghiệp xanh, công nghệ cao và công nghiệp sạch. Tỉnh có nhiều khu công nghiệp, Khu kinh tế Ninh Cơ (ven biển) và thu hút FDI mạnh trong lĩnh vực này.

•  Các phân ngành ưu tiên:

•  Cơ khí, lắp ráp ô tô, xe máy và linh kiện.

•  Điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin.

•  Công nghiệp hỗ trợ, vật liệu mới.

•  Chế biến nông sản, thực phẩm, đồ uống.

4.3. Nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu và kinh tế biển

Nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng nhất định nhưng cần chuyển sang giá trị cao, kết hợp với du lịch (agritourism) và kinh tế biển (nuôi trồng thủy sản, khai thác bền vững).

•  Hướng phát triển: Nông nghiệp sạch, hữu cơ, công nghệ cao; chế biến sâu nông sản; nuôi trồng thủy sản (tôm, ngao); logistics và dịch vụ cảng biển tại Khu kinh tế Ninh Cơ.

•  Lợi thế cho tư nhân: Dễ tham gia với quy mô vừa và nhỏ, liên kết chuỗi (doanh nghiệp - nông dân), xuất khẩu và kết nối với du lịch.

Lý do lựa chọn và khuyến nghị triển khai cho doanh nghiệp tư nhân

•  Phù hợp với quy hoạch tỉnh: Quy hoạch 2021-2030 (điều chỉnh) nhấn mạnh du lịch và công nghiệp văn hóa là mũi nhọn, công nghiệp là động lực, phát triển bền vững, xanh, số.

•  Tận dụng lợi thế: Vị trí giao thông thuận lợi (gần Hà Nội, cảng biển), di sản văn hóa, quỹ đất công nghiệp và chính sách thu hút đầu tư (KCN, Khu kinh tế Ninh Cơ).

•  Bền vững: Tập trung xanh, sạch, công nghệ cao để tránh ô nhiễm, tạo giá trị gia tăng cao, tham gia chuỗi toàn cầu và hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trở thành “xương sống” của nền kinh tế.

5. Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong thời gian tới

Để tiếp tục triển khai hiệu quả việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm khơi thông nguồn lực cho kinh tế tư nhân, tạo nền tảng quan trọng để tỉnh nâng cao sức cạnh tranh, thu hút các nhà đầu tư chiến lược và thúc đẩy tăng trưởng bền vững trong giai đoạn tới, theo tôi, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc và quyết liệt các nhiệm vụ được giao tại các nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động, văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh về cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; phát triển doanh nghiệp và phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân, khởi nghiệp sáng tạo gắn với chuyển đổi số; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy mục tiêu tăng cường niềm tin và nâng cao sự hài lòng của người dân, tổ chức là thước đo đánh giá chất lượng phục vụ, chất lượng điều hành của cơ quan hành chính nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở. Tập trung quán triệt và triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm và Công điện của Thủ tướng Chính phủ về chống lãng phí; các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh về sử dụng hiệu quả các nguồn lực, triển khai nhanh chóng các công trình, dự án, không để thất thoát, lãng phí.

Hai là, chủ động rà soát lại công việc theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công theo hướng “một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm đến cùng”, coi đây là giải pháp cải cách hành chính then chốt. Mục đích là chấm dứt tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, chồng chéo công việc để bộ máy công quyền hoạt động hiệu quả, nhanh chóng hơn, khắc phục các hạn chế, bất cập thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý. Phát huy tối đa các nguồn lực, tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt, đổi mới, tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; chủ động, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của người dân và doanh nghiệp.

Ba là, tập trung rà soát, tháo gỡ các rào cản, vướng mắc về cơ chế, chính sách để khơi thông điểm nghẽn về huy động, sử dụng nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả, minh bạch hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước. Xác định “cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh chỉ có điểm bắt đầu, không có điểm kết thúc”.

Bốn là, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp; tăng cường công tác xúc tiến, thu hút đầu tư; tạo điều kiện thuận lợi triển khai thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn, góp phần tạo ra các sản phẩm công nghiệp mới có giá trị tăng thêm, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách.

Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân, doanh nghiệp (thông qua Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh và Hội doanh nghiệp các địa phương) tích cực tham gia cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, theo dõi, đôn đốc việc tổ chức, triển khai thực hiện để kịp thời phát hiện hạn chế, khuyết điểm, sớm ngăn chặn, phòng ngừa hiện tượng nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, tạo sự lan tỏa, giúp cộng đồng doanh nghiệp hiểu sâu hơn, thực chất hơn về những nỗ lực của tỉnh trong cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, hướng tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp. Tiếp tục duy trì thực hiện việc đối thoại giữa các cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp theo chuyên đề, lĩnh vực cụ thể nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Tác giả: Nguyễn Thanh Bình - Phó Giám đốc Sở Công Thương